Nhà ở là công trình kiến trúc độc đáo thể hiện vẻ đẹp vật chất và giá trị tinh thần của người sở hữu. Nhà ở là sản phẩm sáng tạo gắn liền với cuộc sống của con người, từ khi cất tiếng khóc chào đời đến khi nhắm mắt về với mường trời. Nhà ở ngoài giá trị kiến trúc, còn là nơi sản sinh và lưu giữ nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp, gắn liền với đời sống sinh hoạt, sản xuất và nghi lễ vòng đời.
Về nguồn gốc của những ngôi nhà đất, ông Lý Văn Ỏn, dân
tộc Nùng, sinh năm 1932, tại bản Nà Lẹng,
thôn Nà Lệnh, xã Thạch Đạn, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn cho biết
“chẳng biết những ngôi nhà đất đã có từ
bao giờ, lúc ông còn nhỏ đã nghe các cụ kể rằng nhà đất có từ lâu lắm rồi”.
Những gia đình có 2 người con trai trở lên, sau khi lấy vợ cho con, bố mẹ sẽ
làm nhà cho con cái để con cái ra ở riêng. Từ đó, ngôi nhà sẽ gắn bó với người
đó cho tới khi lìa đời. Theo ông Lý Văn Ỏn, người Nùng Phàn Slình quan niệm được chút
hơi thở cuối cùng trong căn nhà của mình là một điều gì đó rất thiêng liêng, vậy
nên dù lúc ốm đau có đi viện khám chữa, nhưng khi biết không qua khỏi người ta
thường xin bệnh viện cho về nhà để được nhắm mắt trong ngôi nhà của mình.
Nhà của người Nùng Phàn Slình ở huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng
Sơn chủ yếu là nhà đất, với 2 loại chủ yếu là nhà trình tường và nhà gạch mộc. Cả 2 loại hình nhà đều được làm từ nguyên liệu trong tự
nhiên sẵn có như bùn đất, đá, gỗ…
Nhà trình tường tiếng Nùng Phàn Slình gọi
là “hờn xình” (hờn = nhà, xình = tường
= trình tường). Tường được làm bằng đất, độ dày khoảng từ 50 - 60cm. Khi trình
tường, người ta dùng hai tấm ván dày làm khuôn ép hai bên, cho đất sét vào
trong khuôn, mỗi lớp tường cao khoảng 40 - 50cm, các lớp tường được gắn với
nhau bởi thanh tre đã được ngâm nước. Sau khi đổ đất và cho thanh tre vào trong
khuôn, người ta dùng dầm để nện kỹ đất, sau đó tháo ván ra, để tường khô rồi
làm tiếp lớp khác.
Nhà gạch mộc tiếng Nùng Phàn Slình gọi
là “hờn chên” (hờn = nhà, chên = gạch
mộc). Tường nhà được xếp bằng gạch sống, gạch hình vuông, với kích thước khoảng
30 - 40cm. Các lớp gạch được kết dính với nhau bởi một lớp bùn non. Tường thường
cao khoảng 3 - 3,5m. Phía ngoài
tường nhà người ta thường chát một lớp bùn trộn với phân trâu, một số nhà còn
quét một lớp vôi bên ngoài.
Mái nhà đất được lợp bằng cỏ tranh hoặc
mái ngói âm dương, cách lợp cứ 1 hàng ngửa 1 hàng úp, rìa của hàng nọ phủ lên
lòng của hàng kia, người ta phải lợp làm sao cho ngói hai hàng ngoài cùng phải
úp.
Ông Lý Văn Ỏn cho biết
thêm, trước đây để làm một ngôi nhà truyền thống từ khi chuẩn bị nguyên liệu đến
khi hoàn thành phải mất vài tháng đến nửa năm. Trong thời gian làm nhà, mọi người
trong cộng đồng bản đều cố gắng giúp đỡ hoặc là bằng vật chất, hoặc là giúp đỡ
bằng ngày công, với tinh thần “bát mưng
bát câu” (có đi có lại). Qua đó, việc dựng nhà là phương tiện để người dân
trong bản đoàn kết với nhau hơn.
Theo nhà nghiên cứu Dân
tộc học Hoàng Hoa Toàn “theo truyền thống
của người Nùng, việc làm nhà cửa là dịp tương trợ nhau trong làng bản. Khi gia
đình nào đó có ý định làm nhà thì mọi người trong bản đến giúp việc lên rừng
khai thác gỗ. Đủ gỗ rồi vận chuyển về nhà, lại đưa xuống ao, suối ngâm để chống
mối mọt… rồi vớt lên, rồi cưa, bào, đục, đẽo…”.
Sau khi làm xong nhà,
gia chủ sẽ làm lễ “khảu hờn mau” (vào
nhà mới), với mục đích rước rửa vào nhà và dựng bàn thờ tổ tiên. Lễ vào nhà mới
của người Nùng Phàn Slình bắt buộc
phải do thầy cúng (tào, mo) tiến hành. Đồng bào quan niệm, thầy cúng là người
có sức mạnh siêu nhiên, có khả năng giao tiếp với thần linh. Ngoài ý nghĩa về mặt
tín ngưỡng, lễ vào nhà mới còn mang ý nghĩa cố kết cộng đồng sâu sắc. Trong lễ
vào nhà mới, gia chủ sẽ mời tất cả những người họ hàng, hàng xóm đã giúp đỡ gia
đình trong quá trình làm nhà đến cũng ăn bữa cơm chia vui với gia đình. Khách mời
tham dự lễ vào nhà mới đáp lại tình cảm của gia chủ bằng những lời chúc, những
bài sli mừng nhà mới, ca ngợi vẻ đẹp của ngôi nhà và sự hiếu khách của gia chủ.
Trong bối cảnh hội nhập
hiện nay, kinh tế và văn hóa đang biến đổi mạnh mẽ, nhà cửa truyền thống đang
mai một dần, thay vào đó là những ngôi nhà bê tông hiện đại. Việc bảo tồn hay
phá bỏ nhà truyền thống, để xây dựng những ngôi nhà hiện đại đang là bài toán
khó, yêu cầu các nhà làm chính sách và người dân cần phải giải quyết mâu thuẫn
giữa bảo tồn và phát triển.
Bài viết của Lý Viết Trường
Đã đăng trên Tạp chí Thế giới Di sản
Xem thêm video về nhà cửa của người Tày, Nùng tại: https://www.youtube.com/watch?v=J8YHlXA2EJk&t=1008s
|
Nùng Phàn
Slình là một nhóm địa phương của dân tộc Nùng. Người Nùng đã có mặt ở Việt
Nam từ lâu đời. Buổi đầu dựng nước Âu Lạc, với câu chuyện lịch sử An Dương
Vương lập nước Âu Lạc (đóng đô ở Cổ Loa) là minh chứng cho sự xuất hiện sớm của
người Nùng. Trải qua biến thiên của lịch sử, phần lớn người Nùng cổ đã hóa
Tày. Qua gia phả, các câu chuyện kể của các cụ, qua điều tra mồ mả tổ tiên
các nhà nghiên cứu cho rằng người Nùng ở Việt Nam hiện nay (bao gồm nhóm Nùng
Phàn Slình) mới di cư từ Trung Quốc sang cách ngày nay hơn 200 năm. Tộc danh
Nùng Phàn Slình có nguồn gốc từ địa danh nơi họ sinh sống trước khi di cư vào
Việt Nam, đó là châu Vạn Thừa, nay thuộc huyện Đại Tân, tỉnh Quảng Tây. Hiện nay, ở
Lạng Sơn người Nùng Phàn Slình sinh sống tập trung ở xã: Thiện Thuật, Thuận
Hòa, Thiện Long, Hòa Bình, Yên Lễ, Quang Trung, Minh Khai (huyện Bình Gia); Vạn
Thủy (huyện Bắc Sơn); Bằng Khánh, Đồng Bục, Khuất Xá, Hiếu Khánh, Yên Khoái,
Như Khuê, Minh Phát, Quan Bản (huyện Lộc Bình); Nậm Nha, Đồ Sơn, Đồng Tâm
(huyện Hữu Lũng); Vân An, Chiến Thắng, Bắc Thủy, Liên Sơn (huyện Chi Lăng);
Thạch Đạn, Thanh Lòa, Gia Cát, Hải Yến, Hòa Cư, Cao Lâu, Xuất Lễ, Tân Thành,
thị trấn Cao Lộc… (huyện Cao Lộc), Tưởng Lăng, Vĩnh Lại, Yên Phúc, Hòa Bình
(huyện Văn Quan)… |


Nhận xét
Đăng nhận xét